mua may tinh cu tai ha noi-- cat gach

Báo chí đưa tin ngày 16.7.2012 - Những sự kiện nổi bật trên báo chí hàng ngày | Đặt mua báo chí | Dat mua bao chi

dieu hoa noi that gach tranh gạch tranh

Báo chí đưa tin ngày 16.7.2012 – Những sự kiện nổi bật trên báo chí hàng ngày

Báo chí đưa tin ngày 16.7.2012 – Những sự kiện nổi bật trên báo chí hàng ngày

Trong buổi sáng ngày 16/7/2012, một số báo chí đã có bài phản ánh những sự kiện nổi bật của đất nước và những vấn đề liên quan đến công tác tư pháp như sau:

I- THÔNG TIN VỀ NHỮNG SỰ KIỆN NỔI BẬT CỦA ĐẤT NƯỚC

1. Báo điện tử Chính phủ có bài Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công. Bài báo đưa tin: Theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng, các hoạt động kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công (7/8/1912 – 7/8/2012) được tổ chức trang trọng, chu đáo, thiết thực, hiệu quả, tiết kiệm, gắn với các hoạt động kỷ niệm 67 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9.

Theo kế hoạch, Lễ kỷ niệm sẽ bắt đầu vào sáng ngày 6/8/2012 với Lễ dâng hương tại Khu lưu niệm đồng chí Võ Chí Công. Tiếp đó, tổ chức lễ kỷ niệm tại tỉnh Quảng Nam. Ban Tuyên giáo Trung ương cũng sẽ chủ trì xây dựng một bộ phim tài liệu về đồng chí Võ Chí Công, công chiếu trên Đài Truyền hình Việt Nam và các đài truyền hình khác…

2. Trang web vtv.vn có bài “Nóng” vấn đề thu ngân sách. Bài báo phản ánh: 6 tháng đầu năm 2012, thu ngân sách do ngành thuế quản lý ước đạt gần 280 nghìn tỷ đồng, bằng 48% dự toán pháp lệnh và bằng 45,5% so với dự toán phấn đấu. Con số này cho thấy những khó khăn trong công tác thu chi ngân sách 6 tháng đầu năm nay.

Mặc dù công tác thu ngân sách 6 tháng đầu năm còn gặp nhiều khó khăn, nhưng theo Bộ Trưởng Bộ Tài chính Vương Đình Huệ thì với nhiều giải pháp mà Chính phủ đã đề ra trong thời gian qua như giảm lãi suất, gói hỗ trợ doanh nghiệp… sẽ tạo đà để cải thiện tình hình sản xuất kinh doanh, qua đó tăng nguồn thu ngân sách.

Nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước năm 2012 của ngành thuế là 581 nghìn tỷ đồng, trong đó thu từ dầu thô là 87 nghìn tỷ đồng. Mặc dù nửa năm đầu đã qua, số thu ngân sách chưa đạt được như kế hoạch đề ra, nhưng những dấu hiệu về sự khởi sắc của kinh tế trong nước và những tác động tích cực của kinh tế thế giới, đó có thể là những yếu tố góp phần tăng nguồn thu ngân sách 6 tháng cuối năm.
3. Báo Dân trí có bài 30 tàu Trung Quốc chính thức xâm phạm Trường Sa. Bài báo phản ánh: Khoảng 17 giờ chiều 15/7, một đội gồm 30 tàu cá xuất phát từ tỉnh đảo Hải Nam của Trung Quốc đã tới một địa điểm đánh bắt cá thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Theo tin của THX từ tàu cá Qiongsanya-F8168, đây là đội tàu cá lớn nhất từ đảo Hải Nam tới quần đảo Trường Sa. Các tàu này đã tới vùng biển thuộc Bãi đá Chữ thập của Việt Nam sau khi trải qua hải trình kéo dài 78 giờ đồng hồ.

4. Báo Giáo dục & Thời đại có bài Tập trung sửa đổi Hiến pháp 1992 và sửa đổi Luật Đất đai. Bài báo đưa tin: Tại Hội nghị triển khai Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 6 tháng cuối năm 2012 và năm 2013 diễn ra chiều 13/7, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu nhấn mạnh, Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh 6 tháng cuối năm 2012 và năm 2013 có nhiều dự án quan trọng như: Sửa đổi Hiến pháp năm 1992, sửa đổi Luật Đất đai, có những dự án phạm vi điều chỉnh rộng, nội dung phức tạp… Năm 2013 là năm bản lề cho việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cả nhiệm kỳ, do đó cần tập trung và dành nhiều thời gian hơn cho công tác xây dựng luật, pháp lệnh.

II-NHỮNG THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC TƯ PHÁP

1. Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh có bài Chi cục Thi hành án quận Tân Bình xây nhà tình thương cho anh Bền. Bài báo phản ánh: Báo Pháp Luật TP.HCM ngày 7-7 đăng bài “Những mảnh đời cơ cực trong căn nhà rách” phản ánh hoàn cảnh nghèo khó của vợ chồng anh Hồ Văn Bền ở ấp Xóm Mới, xã Thanh Phước, huyện Gò Dầu (Tây Ninh).

Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình (TP.HCM) đã giúp đỡ cho vợ chồng anh Bền 41 triệu đồng để xây căn nhà mới. Số tiền này được chi cục trích từ “quỹ tiết kiệm nuôi heo đất” do các cán bộ, nhân viên của chi cục đóng góp mỗi ngày. Hiện UBND xã Thanh Phước đang khẩn trương xây nhà mới cho anh Bền bằng số tiền này.

2. Báo Quân đội nhân dân có bài Vụ tai nạn do điện ở xã Văn Tự, huyện Thường Tín (Hà Nội): Việc thi hành án có gì uẩn khúc? Bài báo phản ánh: Đã 8 năm trôi qua, vụ tai nạn kinh hoàng gây nên cái chết của chồng và con chị Nguyễn Thị Láu ở thôn An Lãng, xã Văn Tự, huyện Thường Tín (Hà Nội) dường như vẫn chưa nguôi ngoai. Đã thế, việc thi hành án của các cơ quan chức năng quá chậm trễ khiến dư luận địa phương bức xúc.

Trong Công văn số 185 ngày 31-8-2005, Công an huyện Thường Tín đã xác định rõ nguyên nhân tai nạn và kết quả điều tra là: Do đường dây tải điện từ trục chính của thôn An Lãng phục vụ sinh hoạt cho 25 hộ dân khu vực xóm Hưng Đạo xuống cấp. Đoạn đi qua nhà chị Láu bị đứt, một đầu dây của cột chính rơi xuống sân chuồng lợn.

Tại kết luận giám định của Viện Khoa học Hình sự, Bộ Công an số 1858 ngày 15-7-2005 cũng cho thấy: Điểm đứt của đường dây điện vào nhà chị Láu có dấu vết nóng chảy do chập mạch điện tạo ra. Như vậy, nguyên nhân dẫn đến cái chết của cha con anh Huyên là do sự cố đường điện.

Căn cứ vào những kết luận trên, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây (cũ) đã tiến hành xét xử và xác định: Công trình cấp điện xảy ra sự cố chập điện nêu trên thuộc quyền sở hữu và quản lý của HTX Nông nghiệp thôn An Lãng. Ngày 13-2-2006, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây đã có kết luận tại bản án số 01/2006/DSST với nội dung được ghi rõ: Yêu cầu đơn vị quản lý đường điện là HTX Nông nghiệp thôn An Lãng phải bồi thường cho gia đình nạn nhân: Chi phí mai táng 10 triệu đồng (đã chi trả 3 triệu đồng còn 7 triệu đồng), tiền cấp dưỡng nuôi hai con 200 nghìn đồng/cháu/tháng đến khi trưởng thành (đứa lớn 14 tuổi, nhỏ 9 tuổi) và cấp dưỡng cho bố mẹ 100 nghìn đồng/người/tháng cho đến khi chết. Bồi thường tổn thất tinh thần cho bố mẹ nạn nhân 10 triệu đồng, cho vợ con nạn nhân 30 triệu đồng.

Thấy bản án không thỏa đáng, chị Láu làm đơn kháng cáo gửi Tòa án nhân dân Tối cao. Vậy nhưng, đã gần 8 năm nay gia đình chị vẫn chưa nhận được hồi âm, cũng như khoản bồi thường từ bên phải thi hành án ngoại trừ 3 triệu đồng tiền mai táng.

3. Báo Người cao tuổi có bài Huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương: Giải quyết khiếu nại thi hành án vòng vo. Bài báo phản ánh: Ông Võ Kim Long, ngụ tại nhà số 413, ấp Kiến An, xã An Điền, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, gửi đơn khiếu nại đến Báo Người cao tuổi, phản ánh: Ông có quyền sử dụng 760,6m2 đất thổ cư do UBND huyện Bến Cát cấp ngày 30-8-1990; là chủ sở hữu nhà 239,94m2 tự xây dựng năm 1989.

Trong quá trình thi hành bản án của Tòa án giải quyết tranh chấp tài sản trên của ông Long, Đội Thi hành án (THA) huyện Bến Cát (nay là Chi cục THA Dân sự huyện Bến Cát) kê biên, bán đấu giá tài sản của ông Long: Đất 484,13m2, còn lại 276,47m2; nhà: 82,46m2 (Biên bản ngày 8-5-2002). Ông Long đã liên tục có đơn khiếu nại việc kê biên, bán đấu giá tài sản, mà không được giải quyết thỏa đáng. Mới đây, do có yêu cầu của Tổng cục Thi hành án Dân sự (Bộ Tư pháp) và của phóng viên Báo Người cao tuổi, Chi cục THA Dân sự huyện Bến Cát đã ban hành Văn bản số 241/TB-THA ngày 3-6-2012 “Thông báo giải quyết đơn khiếu nại vụ ông Võ Kim Long”. Nội dung Thông báo này có nhiều bất cập.

Thông báo cho rằng: “Căn cứ điểm d, khoản 2, Điều 140 Luật THA Dân sự năm 2008 và Điều 9 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2011 thì thời hiệu khiếu nại của ông Võ Kim Long đã hết”. Tuy nhiên, Đội THA huyện Bến Cát (nay là Chi cục THA Dân sự huyện Bến Cát) ban hành “Báo cáo tiến độ THA và kết quả giải quyết đơn khiếu nại của công dân” số 06/THA ngày 27-1-2005, tại trang 5 viện dẫn các nội dung khiếu nại của ông Long và trả lời, mà không ra quyết định giải quyết khiếu nại bằng văn bản theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo. Điều này thể hiện khiếu nại của ông Long chưa được giải quyết; Báo cáo cho rằng “thời hiệu khiếu nại của ông Võ Kim Long đã hết”, là không có cơ sở.

Báo cáo cho rằng: “Ông Võ Kim Long đồng ý cho cơ quan THA định giá phát mãi tài sản là nhà và đất”. Điều này là không có cơ sở. Pháp luật về THA quy định: “Chỉ được kê biên nhà ở của người phải THA, khi người THA không còn tài sản nào khác”. Trong khi, ông Long có giá trị quyền sử dụng đất lớn hơn rất nhiều so với số tiền phải THA. Đội THA huyện Bến Cát phải biết rằng sự đồng ý trên của ông Long là không phù hợp với quy định của pháp luật.

Báo cáo khẳng định: “Việc kê biên lần hai là do trên đất có nhà mà lần một kê biên thiếu nên phải bổ sung”. Nhưng, tại Thông báo số 06/TB ngày 14-11-2002 của Đội THA huyện Bến Cát “về việc đấu giá phát mãi tài sản”, có ghi giá khởi điểm là 678.327.000 đồng. Trong khi, ông Long chỉ phải THA trả tổng số tiền là: 158.500.000 đồng/người x 3 người = 475.500.000 đồng, chênh lệch 202.827.000 đồng. Như thế, tại sao lúc đó, cơ quan THA không giải thích rõ ràng cho ông Long?

Báo cáo còn cho rằng: “Khiếu nại phần đền bù giải tỏa làm đường vào chợ Bến Cát, Đội THA cho người trúng đấu giá nhận tiền, khiếu nại này không thuộc thẩm quyền của Chi cục THA Dân sự huyện Bến Cát. Đây là quyền lợi của người trúng đấu giá tài sản được đền bù giải tỏa làm đường vào chợ Bến Cát từ ban dự án giải tỏa đền bù sau khi trúng đấu giá tài sản”.

Đường vào chợ Bến Cát được quy hoạch, đền bù từ năm 1999. Trong khi, thời điểm kê biên, bán đấu giá tài sản là năn 2002; tài sản kê biên bán đấu giá là QSD đất nằm ngoài phần đất làm dự án trên (nhưng thuộc phần đất 760,6m2 ghi tại giấy chủ quyền sử dụng của ông Long); do vậy, bà Phong mua trúng đấu giá tài sản là QSD đất không thuộc đất của dự án làm đường. Như vậy, số tiền đền bù thuộc quyền sở hữu của ông Long. Nhưng Đội THA huyện Bến Cát đã giao số tiền đền bù cho bà Phong là không đúng đối tượng.

Báo cáo khẳng định “Đội THA huyện Bến Cát trong quá trình thực hiện nhiệm vụ không vi phạm các quy định của Pháp lệnh THA Dân sự năm 2004″. Thực tế, Cơ quan THA Bến Cát kê biên diện tích 82,46m2 nhà của ông Long (Biên bản kê biên tài sản ngày 8-5-2002); và, tài sản (nhà) bán đấu giá cũng là 82,46m2. Nhưng, Cơ quan THA đã cưỡng chế buộc ông Long giao toàn bộ nhà là 411,2m2 cho bà Phong. Trong khi, Pháp lệnh THA Dân sự năm 2004 không có nội dung nào quy định cơ quan THA được giao tài sản không đúng với tài sản bán đấu giá cho người mua trúng đấu giá. Chi cục THA huyện Bến Cát giải thích như thế nào về điều này?

4. Báo Lao động có bài Chuyện lạ ở tỉnh Đồng Nai: Bản án vô hiệu 7 năm, vẫn thi hành(?!)  Bài báo phản ánh: Một lô đất, ông Nguyễn Văn Quýt (ngụ phường Tân Vạn,TP.Biên Hòa) bán cho 2 người; thay vì xử lý hình sự, Toà án Nhân dân tỉnh Đồng Nai (ĐN) lại xử lý dân sự, bác quyền lợi của người mua đầu tiên. Rồi, sau 7 năm, bản án bị vô hiệu, bất ngờ Chi cục Thi hành án dân sự (THADS) thành phố Biên Hòa khôi phục lại bản án để thi hành án, gây bức xúc trong dư luận.
5. Báo VnExpress có bài Bộ Tư pháp ‘tuýt còi’ Quy chế cai nghiện của Đà Nẵng. Bài báo đưa tin: Cục trưởng Lê Hồng Sơn vừa có văn bản gửi UBND và Sở Tư pháp Đà Nẵng đề nghị kiểm tra lại Quy chế cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ban hành kèm theo Quyết định số 40 ngày 3/12/2010 của UBND thành phố.

Cục cho rằng, khoản 2 Điều 5 Quy chế nêu “người nghiện ma túy, người tái nghiện ma túy” phải cai nghiện bắt buộc tại trung tâm mà không kèm theo quy định về độ tuổi và các điều kiện cụ thể khác là trái với Nghị định số 135 (căn cứ pháp lý để ban hành Quy chế) và Luật Phòng, chống ma túy. Mặt khác, việc Đà Nẵng đưa “người sử dụng trái phép chất ma túy bị bắt quả tang” vào trung tâm cũng được cho là trái với nghị định và luật đã viện dẫn ở trên do “thiếu điều kiện người sử dụng phải lệ thuộc vào ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần…” pháp luật đã quy định.

Cục Kiểm tra văn bản nhận thấy quy định về những trường hợp bị bắt buộc cai nghiện của Đà Nẵng còn không phù hợp với khoản 2 Điều 1 Nghị định số 61/2011/NĐ-CP. “Quy định thiếu chặt chẽ, chưa phù hợp nêu trên cần phải được xem xét, xử lý theo quy định”, người đứng đầu Cục nêu quan điểm trong văn bản gửi chính quyền Đà Nẵng.

6. Báo Hà Nội mới có bài “Quên” Nghị định 79? Bài báo phản ánh: Đang là dịp tuyển sinh đầu năm học, ngoài nỗi lo chọn trường, chọn lớp cho con em thì không ít phụ huynh còn phải đau đầu trước những thủ tục mà nhà trường đòi hỏi.

Trên địa bàn quận Cầu Giấy, nhiều trường mầm non, tiểu học yêu cầu một trong những giấy tờ cần nộp là bản sao giấy khai sinh của học sinh (bản sao được chứng thực từ bản chính) nhưng lại yêu cầu xuất trình thêm bản chính để đối chiếu.

Trong khi đó, theo Nghị định 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký thì bản sao được cấp từ sổ gốc, bản sao được chứng thực từ bản chính có giá trị pháp lý sử dụng thay cho bản chính trong các giao dịch. Khi tập huấn, triển khai quy định này, Sở Tư pháp TP Hà Nội đã nhiều lần phát đi thông điệp, cơ quan, tổ chức tiếp nhận không được yêu cầu xuất trình bản chính, trừ trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ bản sao là giả mạo thì có quyền xác minh. Chỉ khi người dân nộp bản sao phô tô không có chứng thực thì đơn vị tiếp nhận mới có quyền yêu cầu xuất trình giấy tờ gốc để xem xét đối chiếu. Qua đó, Nhà nước khuyến khích cơ quan, tổ chức khi tiếp nhận hồ sơ tự mình đối chiếu tính chính xác của bản sao (có thể là bản chụp, bản in, bản đánh máy, bản viết tay…) so với bản chính mà không nhất thiết phải yêu cầu người dân nộp bản sao có chứng thực. Bởi công việc sao y, chứng thực hiện quá tải cả về nhân lực và công tác lưu trữ.

Rõ ràng, việc yêu cầu phụ huynh xuất trình bản chính giấy khai sinh của học sinh, khi đã tiếp nhận bản sao có chứng thực là việc làm “thừa”, vừa thêm thủ tục, vừa trái với quy định của pháp luật, lại gây tốn kém thời gian và chi phí của phụ huynh. Đáng lưu ý, việc “đòi” bản chính các giấy tờ khi tiếp nhận hồ sơ, dù đã nộp bản sao có chứng thực là thực trạng vẫn đang diễn ra trong nhiều lĩnh vực, ở nhiều địa phương trong cả nước.

7. Báo Pháp luật Việt Nam có bài Nuôi con, chia của – tự thỏa thuận khi ly hôn không phải lúc nào cũng hay! Bài báo phản ánh: Theo thống kê của toàn ngành Tòa án nhân dân, các vụ việc thụ lý dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình luôn chiếm số lượng cao nhất so với các loại án khác. Và cũng từ thực tiễn này, việc giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình tại Tòa án đã cho thấy nhiều bất cập chủ yếu có nguyên nhân từ luật…

Sống với nhau được 5 năm thì anh Nguyễn Văn Bính và chị Lê Thị Nụ (ở huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa) quyết định dẫn nhau ra tòa ly hôn. Vì đứa con gái chung chỉ mới 3 tuổi nên họ đã tự thỏa thuận là chị Nụ sẽ nuôi con.

Tòa án theo yêu cầu của đương sự cũng chỉ ghi nhận sự thỏa thuận này trong quá trình giải quyết ly hôn chứ không tham gia vì không có yêu cầu. Nhưng một thời gian sau đó, anh Bính đã đâm đơn ra Tòa yêu cầu Tòa ra quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con với lý do chị Nụ chuẩn bị xuất cảnh lấy chồng nước ngoài và sẽ mang theo con gái. Nói chuyện với vợ cũ không thành công, sợ mất con, anh Bính đành liều gửi đơn dù biết rõ rằng trước đó việc nuôi con là do hai vợ chồng tự thỏa thuận chứ không phải quyết định của Tòa án. Về phần mình, Tòa án cũng rất vướng khi giải quyết việc này.

Trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có Chương X quy định về việc ly hôn và đề cập tới các hệ quả của việc ly hôn như Điều 92 về trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau ly hôn, Điều 95 đến 99 giải quyết các vấn đề về liên quan đến tài sản chồng vợ… , nhưng tiếc rằng lại thiếu hẳn một vế quan trọng, đó là quy định các vấn đề đó bắt buộc phải được đưa ra giải quyết khi ly hôn. Thế nên, khi có đơn yêu cầu giải quyết ly hôn, nếu các bên không có yêu cầu thì bản án, quyết định của Tòa chỉ giải quyết ly hôn, còn về phần con chung và tài sản chỉ ghi là: không có yêu cầu Tòa giải quyết (hoặc tự giải quyết).

Sau đó, nếu một hoặc các bên phát sinh tranh chấp và có đơn yêu cầu thì Tòa án sẽ giải quyết bằng vụ việc khác. Vì sự thiếu hụt quy định này mà theo bà Phan Thị Vân Hương – Phó Trưởng phòng giám đốc xét xử án hôn nhân – Tòa Dân sự TANDTC, trong nhiều trường hợp khi Tòa chỉ đơn thuần giải quyết cho hai bên chấm dứt hôn nhân nhưng con cái để tự giải quyết đã dẫn đến tình huống cả hai cha mẹ đều lập gia đình mới và đùn đẩy trách nhiệm nuôi con cho nhau. Thậm chí, khi xảy ra chuyện gì đó nhà trường, cơ quan xã hội cần xác định người chịu trách nhiệm chính nuôi dưỡng chăm sóc trẻ cũng không biết phải liên hệ với ai.

“Về mặt pháp luật, tôi nghĩ chúng ta cần thiết phải có quy định bắt buộc các bên nếu có ly hôn thì phải có ý kiến về việc giao ai là người trực tiếp nuôi dưỡng con và ý kiến này cần được thông báo tới Tòa.

Mặt khác, Việt Nam cũng chưa có cơ quan nào được giao thẩm quyền thực thi bảo vệ quyền trẻ em trong trường hợp trẻ bị xâm phạm các quyền cơ bản (như bị cha mẹ ngược đãi, không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, không cho đến trường…) mà chỉ quy định quyền khởi kiện của các cơ quan tổ chức bảo vệ lợi ích chung. Mà nếu như các cơ quan này không biết hoặc không thực hiện việc kiện thì trẻ hoàn toàn bị thiệt thòi” – bà Hương nhấn mạnh.

Cũng “khóc ròng” vì sự tự thỏa thuận trong ly hôn, nhưng đối tượng trong câu chuyện dưới đây lại không phải đứa con mà là một công dân trưởng thành hẳn hoi. Tại tỉnh B. đã từng có một vụ án ly hôn khiến người ta nhớ mãi. Vốn bản tính hiền lành, tôn trọng vợ nên khi cuộc hôn nhân tan vỡ, anh Tăng Văn Thanh đã chủ động nói với vợ không cần phải nhờ Tòa phân chia tài sản mà cụ thể ở đây là căn nhà được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân.

Sau khi ly hôn, anh Thanh dọn đến tập thể cơ quan ở, còn chị Mai vợ anh ở lại căn nhà cũ. Sau đó một thời gian, khi anh Thanh đi tu nghiệp nước ngoài 4 năm trở về thì được biết chị Mai đã bán nhà dọn đi tỉnh khác ở được khoảng 2 năm. Bực vì người cũ quá thiếu tôn trọng mình như vậy, anh Thanh đã khởi kiện yêu cầu hủy việc bán nhà của chị Mai và đòi lại một nửa căn nhà.

Lúc này giá nhà đã lên cao gấp hai ba lần so với lúc mua, nên việc hủy toàn bộ hay một nửa hợp đồng mua bán đều gây thiệt hại lớn cho người đã mua căn nhà do chị Mai bán.

Trường hợp này không quá hiếm trong thực tiễn giải quyết các vụ án ly hôn và đều có nguyên nhân từ sự bất hợp lý trong quy định của pháp luật khi không bắt buộc các bên phải có thỏa thuận chấm dứt tài sản chung vợ chồng khi ly hôn trước Tòa.

Việc tranh chấp với bên mua, bên nhận thế chấp chắc chắc sẽ xảy ra. Vì thế, theo quan điểm của cơ quan xét xử, trong lần sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân – Gia đình tới đây, cần đặc biệt lưu ý quy định về việc thỏa thuận giải quyết tài sản chung khi ly hôn, nhất là đối với loại tài sản pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu. Và, nhất thiết Tòa án phải biết đến sự thỏa thuận này khi xét xử (dù cho đương sự đã tự thỏa thuận ổn thỏa) hoặc giải quyết nếu đương sự có yêu cầu.

III. THÔNG TIN KHÁC

Trang web tuanvietnam.vietnamnet.vn có bài ‘Mặc áo mới’ cho chính quyền, Bài báo phản ánh: Bộ Chính trị vừa mới đồng ý tiếp tục cho phép TP.HCM được thực hiện thí điểm đề án tổ chức quản lý theo mô hình chính quyền đô thị. Sự kiện trên lồng dưới bối cảnh bất cập trong nhiều hồ sơ quản lý hành chính cho thấy thời điểm đổi mới mô hình quản lý đô thị hiện nay bắt đầu “chín muồi”.

Năm 2006, Hội thảo “Xây dựng chính quyền đô thị Tp Hồ Chí Minh – một yêu cầu cấp thiết của cuộc sống” đặt ra những đề án cụ thể đầu tiên để thay “chiếc áo mới” cho chính quyền cấp thành phố. Cuối năm 2011, đề án “Chính quyền đô thị” của Đà Nẵng được hoàn tất. Không lâu sau đó, 2/2012, quyết định thành lập Ban chỉ đạo Trung ương xây dựng đề án thí điểm mô hình tổ chức chính quyền đô thị đã được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thông qua (số 192/QĐ – TTg). Tuy vậy lời giải cho những “nút thắt cổ chai” để đưa mô hình vào thực tiễn cuộc sống đến nay vẫn đang tiếp tục phải suy nghĩ.

Khó khăn đầu tiên dễ nhận ra nhất là cơ sở lý luận và cơ sở thực hiện về chính quyền đô thị. Đây là việc ở nước ta chưa từng có tiền lệ. Làm sao để đo được tính khả thi của những đề án chính quyền đô thị của Tp Hồ Chí Minh, Đà Nẵng khi các bên tham gia, từ góc nhìn ở trên ở tầng mức Trung ương, đến các cơ sở thực hiện vai trò thí điểm, chưa được xây dựng một nền tảng đồng bộ về nhận thức.

Câu hỏi phân cấp như thế nào, bao nhiêu lĩnh vực, quyền hạn “tự quản” mỗi đơn vị đến đâu càng khó trả lời khi nước ta chưa có quy định cụ thể và mỗi đô thị lại có đặc thù riêng.

Phân quyền cũng đồng nghĩa với phân công trách nhiệm. Không phải là một chiều nhận chỉ đạo từ trung ương, mà chính quyền đô thị cần có một quyền độc lập nhất định. Một trong những bài học quan trọng nhất của các mô hình đô thị thành công là kết nối được mối liên hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương. Tăng cường quyền tự quản của chính quyền đô thị, giảm thiểu sự can thiệp của chính quyền Trung ương theo phương châm “Ai làm không quan trọng, điều quan trọng là làm như thế nào”- sự am hiểu địa phương thuộc về chính quyền địa phương, nên kế hoạch, chính sách phải do địa phương đề xướng dưới sự chỉ đạo, kiểm soát của Trung ương.

Vì thế những bất cập về cơ chế pháp lý thiếu đồng bộ, chưa được đổi mới, chẳng hạn như Chương IX, Hiến Pháp 1992 và Luật 2003 (luật về tổ chức UBND và HĐND số 11/2003/QH11 ban hành ngày 26/11/2003) sẽ phải sửa đổi cho phù hợp.

Nhìn vào vấn đề nhân lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý, đặc biệt là “thị trưởng” cũng là một thách thức không nhỏ. Yêu cầu đặt ra là bố trí cán bộ hợp lý, xóa bỏ tình trạng không đồng đều trình độ giữa các cấp, nâng cao trách nhiệm của mỗi cá nhân cũng như đẩy mạnh “tin học hóa” nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý.

Việc thống nhất “quyền lực” về một mối không những là sự thay đổi của cơ chế quyết sách với vai trò của một người chịu trách nhiệm đứng đầu mà còn đòi hỏi dàn cán bộ kỹ trị được đào tạo bài bản, để thực thi các chính sách được giao một cách nhanh gọn và hiệu quả hơn.

Bên cạnh đổi mới cơ cấu tổ chức, chính quyền đô thị còn yêu cầu đổi mới sự phân chia các mảng quản lý giữa chính quyền cấp trên và cấp “hỗ trợ”. Theo đó thì chính quyền cấp “hỗ trợ” sẽ nắm rõ hơn những lĩnh vực trong phạm vi của mình, dẫn đến sự chủ động giải quyết những vấn đề của đô thị. Sự phân quyền này ngoài vấn đề pháp lý kể trên, còn là câu hỏi về khoa học tổ chức mà cho đến nay nhiều mô hình được bàn tới.

Ngoài ra, một bất cập khác đến từ sự chưa hoàn thiện cơ sở hạ tầng và tình hình bất ổn về kinh tế chính trị xã hội trong và ngoài nước trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng dân số của đô thị.

Hơn nữa, không thể phủ nhận khái niệm “chính quyền đô thị” đối với người dân vẫn còn khá mới, với tư quy ngại thay đổi thì vấn đề tuyên truyền để đạt được sự đồng thuận không dễ dàng.

Bên cạnh huy động nhân lực, huy động nguồn vốn để triển khai mô hình cũng là câu hỏi đau đầu cho những nhà hoạch định chính sách. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế hiện nay, tiền để xóa bỏ những vấn đề nội tại thành phố đã không đủ, huống chi tiền để “mua” một mô hình mới rồi “vận hành” nó càng trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, để thay “chiếc áo quá chật” cần phải tìm ra “chiếc áo phù hợp” hơn là “mặc vội vàng một chiếc áo mới” rồi chỉnh sửa, thêm bớt cho vừa vặn. Sự thành công không nằm ở việc có được một “mẫu” chính quyền đô thị hoàn hảo mà ở cách vận hành bộ máy. Bài học về xây dựng ‘cơ sở hạ tầng” song hành “kiến trúc thượng tầng” có thể sẽ được kiểm chứng qua việc hình thành một mô hình chính quyền đô thị hợp lý và hoàn chỉnh: không những về phần cứng qua cầu đường trường trạm hay thiết chế thực hiện, mà cả ở phần mềm trong suy nghĩ, lẫn tư duy.

Theo nguon moj.gov.vn

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>