mua may tinh cu tai ha noi-- cat gach

Các bài báo hay , thông tin hay trên báo chí , bao chi dua tin hay

dieu hoa noi that gach tranh gạch tranh

Báo chí ngày 15.6.2012 – Những sự kiện nội bật trong ngày

Báo chí ngày 15.6.2012 – Những sự kiện nội bật trong ngày

Điểm tin báo chí sáng ngày 15 tháng 6 năm 2012
Trong buổi sáng ngày 15/6/2012, một số báo chí đã có bài phản ánh những sự kiện nổi bật của đất nước và những vấn đề liên quan đến công tác tư pháp như sau:

I- THÔNG TIN VỀ NHỮNG SỰ KIỆN NỔI BẬT CỦA ĐẤT NƯỚC

1. Báo Nhân dân đưa tin: Ngày 14-6, trong ngày làm việc thứ 20, Kỳ họp thứ ba, Quốc hội (QH) khóa XIII, các đại biểu QH tiếp tục chất vấn các thành viên Chính phủ.

Buổi sáng, Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng trả lời chất vấn trước QH, giải trình nhiều vấn đề quan trọng được cử tri cả nước quan tâm, chung quanh các giải pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh; việc thu mua, chế biến, tiêu thụ nông sản, thực phẩm; quy hoạch đầu tư, quản lý vận hành các nhà máy thủy điện bảo đảm an toàn, hiệu quả kinh tế – xã hội (KT-XH), cơ chế mua điện của các nhà đầu tư, cơ chế điều hành giá xăng, dầu, hiệu quả hoạt động một số tập đoàn kinh tế…

Tại hội trường, đại biểu QH nêu ra nhiều câu hỏi chất vấn, đề cập ngành điện và xăng, dầu là ngành quan trọng có liên quan đến an ninh năng lượng quốc gia, tuy nhiên thời gian qua vẫn diễn ra tình trạng độc quyền của các ngành này trong thời gian dài. Ðiều đó đã gây nhiều hệ lụy, tác động tiêu cực đến đời sống, sinh hoạt của người dân, người tiêu dùng, hoạt động của doanh nghiệp. Trả lời các câu hỏi chất vấn của các đại biểu QH và nêu ra các giải pháp phá bỏ độc quyền ngành điện, xăng, dầu, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng cho biết, điện và xăng, dầu được coi là ngành quan trọng. Sắp tới sẽ tiến tới quá trình xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp. Theo đó, trong năm 2012, các nhà máy điện không phân biệt tư nhân hay Nhà nước được chào giá công khai, và đến năm 2022, sẽ hình thành thị trường bán lẻ cạnh tranh. Thị trường điện, xăng, dầu nước ta đang ở giai đoạn mới, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, liên quan đến toàn xã hội cho nên cần thận trọng, thực hiện từng bước.

Trong phiên họp buổi chiều, Thượng tướng Trần Ðại Quang, Bộ trưởng Công an trả lời chất vấn của các đại biểu QH.

Giải đáp những vấn đề các đại biểu QH nêu lên, Bộ trưởng Công an Trần Ðại Quang cho biết: Ðúng như các đại biểu QH nhận định, thời gian qua, tình hình tội phạm đang diễn biến hết sức phức tạp. Trước tình hình này, Ðảng, Nhà nước đã chỉ đạo đẩy mạnh hơn nữa công tác phòng, chống tội phạm và trên thực tế công tác này đã, đang được Bộ Công an cùng các ban, ngành và toàn xã hội thực hiện quyết liệt và đạt những kết quả quan trọng, góp phần kiềm chế sự gia tăng tội phạm. Tuy nhiên, hoạt động của tội phạm có tổ chức, tội phạm vị thành niên, tội phạm xâm hại trẻ em, tội phạm chống người thi hành công vụ; tội phạm do người nước ngoài gây ra; tội phạm tham nhũng, ma túy, tội phạm giết người đang gia tăng… Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trong đó, đáng chú ý do tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhiều người mất việc làm, sự xuống cấp về đạo đức xã hội trong thanh, thiếu niên; hệ thống văn bản pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu thực tế cuộc sống… Ðể ngăn chặn tình trạng tội phạm, Bộ Công an phối hợp chặt chẽ các bộ, ngành chức năng kiên quyết tiến công, trấn áp các loại tội phạm; tổ chức lực lượng bám sát thực tế, bám sát địa bàn, nghiên cứu các nguyên nhân phát sinh tội phạm; đồng thời mở nhiều đợt cao điểm phòng, chống. Bên cạnh đó, Bộ Công an triển khai xây dựng khu dân cư không tội phạm, xây dựng lực lượng nòng cốt tại cơ sở trong sạch, vững mạnh; kiên quyết điều tra, khám phá chính xác, thành công các vụ trọng án để khẩn trương đưa ra xét xử.

Ðối với tình trạng tội phạm vị thành niên, theo Bộ trưởng Trần Ðại Quang, nguyên nhân chính dẫn đến tội phạm này đang gia tăng phức tạp với nhiều hành vi nghiêm trọng là do sự buông lỏng quản lý của gia đình, nhà trường. Bên cạnh đó, lớp trẻ bị tác động tiêu cực bởi các trò chơi điện tử trực tuyến, bị ảnh hưởng bởi văn hóa phẩm đồi trụy, phản động, bị bạn xấu lôi kéo phạm tội và sa ngã vào các tệ nạn xã hội. Bộ trưởng đề nghị, các gia đình, nhà trường cần tăng cường quản lý, giáo dục, định hướng cho lớp trẻ. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần quản lý chặt chẽ các ngành kinh doanh, dịch vụ giải trí để góp phần ngăn chặn sự ảnh hưởng tiêu cực đến thanh, thiếu niên. Bộ Công an và các lực lượng chức năng tăng cường  công tác nắm tình hình, ngăn chặn và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các vụ việc xảy ra.

Tại phiên chất vấn, Bộ trưởng Giao thông vận tải (GTVT) Ðinh La Thăng tham gia trả lời một số vấn đề liên quan đến việc bổ nhiệm ông Dương Chí Dũng, nguyên Cục trưởng Hàng hải Việt Nam. Bộ trưởng Ðinh La Thăng khẳng định, việc bổ nhiệm ông Dũng được thực hiện đúng và đầy đủ theo các quy định của Ðảng, Nhà nước, đúng thẩm quyền, bảo đảm tính dân chủ, công khai,  không trái với quy định của pháp luật, trong đó có Luật Thanh tra. Trách nhiệm đối với việc bổ nhiệm ông Dũng là của tập thể Ðảng ủy Bộ GTVT. Với tư cách người đứng đầu Ðảng bộ, Bộ trưởng Ðinh La Thăng nghiêm túc nhận trách nhiệm trong việc bổ nhiệm ông Dũng do có sự nóng vội, chưa sâu sát; công tác kiểm tra, giám sát không tốt cho nên không sớm phát hiện sai phạm của ông Dũng.  Bộ GTVT và bản thân Bộ trưởng xin rút kinh nghiệm và kiểm điểm sâu sắc trong việc đánh giá và bổ nhiệm cán bộ. Hiện nay, Ðảng ủy Bộ GTVT đang kiểm điểm nghiêm túc từng đồng chí có liên quan đến việc này.

Phát biểu ý kiến kết thúc phiên chất vấn Bộ trưởng Công an, Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng nhấn mạnh, phiên chất vấn diễn ra với tinh thần thẳng thắn, nghiêm túc. Câu hỏi và trả lời thẳng thắn, toàn diện liên quan đến các biện pháp bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Chủ tịch QH đề nghị, sau phiên chất vấn, ngành Công an cần tiếp tục thực hiện nghiêm túc các giải pháp đã đưa ra, thực hiện tốt công tác bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo đảm  xây dựng lực lượng Công an nói chung, các lực lượng chuyên ngành nói riêng trong sạch, vững mạnh, hoàn thành  xuất sắc nhiệm vụ được giao.

2. Trang web vtv.vn có bài HN: Công bố kết luận thanh tra tại quận Hà Đông. Bài báo phản ánh: Chiều nay (14/6), tại UBND quận Hà Đông, Thanh tra Chính phủ đã công bố kết luận thanh tra giải quyết KNTC của một số công dân phường Dương Nội, Hà Đông trong việc đền bù, giải phóng mặt bằng để làm các dự án xây dựng khu đô thị.

Thay mặt đoàn thanh tra, ông Nguyễn Như Lợi, Phó cục trưởng Cục I, Thanh tra Chính phủ, Trưởng đoàn Thanh tra đã đọc kết luận thanh tra.

Trả lời tố cáo của công dân về việc quá trình thu hồi đất, các cấp, các ngành đã không tổ chức cho dân được họp bàn dân chủ, Thanh tra Chính phủ kết luận, UBND quận Hà Đông đã tổ chức, thực hiện đầy đủ về trình tự thủ tục thu hồi đất theo Nghị định số 84 của Chính phủ. Tuy nhiên, tại biên bản các cuộc họp, xã Dương Nội chỉ ghi tổng số người dự họp mà không ghi rõ tên của từng người, từng hộ. Đây là nguyên nhân dẫn đến khiếu nại của các hộ dân. Diện tích đo thực tế của 9 dự án có sự chênh lệch so với diện tích thực tế và số tiền chênh lệch là hơn 22 tỷ đồng. Số tiền này quận Hà Đông đã chuyển về cho phường Dương Nội sử dụng là không đúng với điều 47, Nghị định 84 của Chính phủ.

Bên cạnh đó, kết luận Thanh tra Chính phủ cũng đề cập đến một số nội dung tố cáo của công dân, như việc đào tạo nghề cho lao động không còn đất; không thông báo cưỡng chế, việc giải tỏa nghĩa trang của nhân dân.

Từ các kết quả trên, đoàn thanh tra đã có những đề xuất, kiến nghị Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo UBND thành phố Hà Nội thực hiện một số công việc sau: Giao UBND quận Hà Đông kiểm điểm và có hình thức xử lý theo quy định của pháp luật đối với các tổ chức và cá nhân về những thiếu sót trong quá trình tổ chức, thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ GPMB đối với các dự án trên địa bàn phường Dương Nội đã được nêu trong kết luận này. UBND quận Hà Đông tổ chức, thực hiện việc giao đất dịch vụ cho các hộ dân có đủ tiêu chuẩn được xét duyệt, còn lại những trường hợp chưa xét duyệt, khẩn trương xem xét để giao đất sớm và thông báo công khai để các hộ dân biết về việc giao đất dịch vụ.

Trong kết luận, Thanh tra Chính phủ cũng yêu cầu UBND TP.Hà Nội chỉ đạo UBND quận Hà Đông, giao cho phường Dương Nội, các cơ quan chuyên môn của Quận phối hợp với chủ đầu tư kiểm tra làm rõ đề nghị của 14 hộ gia đình có mộ tại khu vực Giải Phướn để được hỗ trợ di chuyển mộ đến khu vực đã được quy hoạch trước khi triển khai, thực hiện dự án.

Hầu hết 15 hộ dân có mặt tại buổi thông báo kết luận thanh tra đã phát biểu về các nội dung được đề cập trong kết luận. Phó Tổng thanh tra Chính phủ Nguyễn Văn Thanh đã giải thích về những vấn đề chưa được người dân đồng tình trong kết luận thanh tra và đề nghị bà con phải tuân thủ kết luận thanh tra, không được sử dụng các hình thức khiếu nại tố cáo không được pháp luật cho phép; liên quan đến phần giải phóng mặt bằng, nếu bà con còn những khiếu nại, sẽ phải làm đơn từng trường hợp một để Chủ tịch UBND TP. Hà Nội xem xét, giải quyết.

Trang này cũng có bài Hà Nội giãn, giảm, gia hạn hơn 5 tỷ tiền thuế. Bài báo phản ánh: 5.150 tỷ đồng tiền thuế đã được cục Thuế thành phố Hà Nội giãn, giảm, gia hạn cho các DN vừa và nhỏ của HN. Thông tin này được Phó cục trưởng cục Thuế Hà Nội, Thái Dũng Tiến công bố.

Cũng theo ông Tiến, trong tổng số hơn 5.000 tỷ này, có khoảng 3.000 tỷ đồng là gia hạn nộp tiền sử dụng đất sang năm 2013; khoảng 1.000 tỷ đồng là giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2012 cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động.

Còn lại, khoảng 500 tỷ đồng là gia hạn tiền thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2011 đến 10/5/2012 chưa nộp ngân sách Nhà nước của các doanh nghiệp đủ điều kiện, 150 tỷ đồng là giảm 50% tiền thuê đất của các doanh nghiệp đủ điều kiện; 500 tỷ đồng là thuế giá trị gia tăng kỳ tháng sáu năm nay của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động.

Theo cơ quan thuế, có hơn 70.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hà Nội thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi của nhà nước.

Đến tháng 6 này, đã có hơn 7.700 doanh nghiệp thủ đô phải ngừng hoạt động, giải thể, bằng 68% của cả năm 2011. Đáng chú ý, số doanh nghiệp kê khai không có thuế giá trị gia tăng, kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp lỗ tăng khá cao so với các năm trước.

II-NHỮNG THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC TƯ PHÁP

1. Báo Lao động có bài Vụ khai tử mẹ đẻ: Cơ quan điều tra “non tay” hay nhầm lẫn? Bài báo phản ánh: Xung quanh việc UBND phường 8, quận 6 (nay là UBND phường 14) trực tiếp ký xác nhận và đóng dấu lên hàng loạt đơn xin mua nhà, văn tự ủy quyền… của ông Nguyễn Văn Tư, bất chấp các văn bản này có nội dung không rõ ràng, bị tẩy xóa, ghi sai các chi tiết về căn nhà…, giúp cho ông Tư độc chiếm căn nhà 70 Tân Hòa Đông, phường 14, vốn thuộc sở hữu của mẹ đẻ ông Tư là bà Nguyễn Thị Ngọc, một nhân viên UBND phường 14 cho biết: Mọi xác nhận vào thời điểm đó (năm 1985) đều do bà Nguyễn Thị Cẩm Hồng – Chủ tịch UBND phường 8 – thực hiện.

Nay, thời gian đã qua gần 30 năm, bà Hồng đã không còn công tác ở phường 14 nữa. Và, hiện tại, không ai rành rẽ vụ việc này. Song gần đây, vào tháng 7.2010, ông Nguyễn Vĩnh Ngân – Phó Chủ tịch UBND phường 14 – ký tên, đóng dấu xác nhận trên bản sao giấy chứng tử của bà Ngọc, thì mọi người cho biết, không hiểu vì lý do gì, cách đây hơn 2 tháng, khi bà Ngọc gửi đơn tố giác hành vi giả mạo “giấy chứng tử” của con trai lên các cơ quan luật pháp; bất ngờ, ông Ngân được điều chuyển về công tác tại UBND quận 6.

Ngày 22.10.2011, bà Lương Thanh Trúc – Chủ tịch UBND phường 14 – ra văn bản số 543/UBND, với nội dung “Sau khi kiểm tra, đối chiếu với sổ bộ đăng ký khai tử đang lưu trữ tại phường, không tìm thấy tên Nguyễn Thị Ngọc trong sổ bộ khai tử năm 1992”.

Tuy nhiên, tại phòng công chứng số 7 – TPHCM vẫn còn lưu giữ bản sao “giấy chứng tử” bà Ngọc, do ông Ngân ký tên, đóng dấu ngày 8.7.2010. Bản sao “giấy chứng tử này” do chính ông Tư nộp ngày 14.10.2010 để xin phòng công chứng chứng nhận cho ông Tư và bà Nguyễn Thị Liễu (sinh 1913, chị bà Ngọc) toàn quyền thừa kế căn nhà 78/36 Tân Hòa Đông.

Công chứng viên Lê Thu Hà và Trưởng phòng công chứng số 7 – ông Nguyễn Mạnh Cường đã ký xác nhận cho ông Tư và bà Liễu thừa hưởng căn nhà trên. Trả lời báo chí, ông Nguyễn Mạnh Cường khẳng định: “Chúng tôi đã thực hiện đầy đủ quy trình… Những người được hưởng quyền thừa kế các tài sản có thể khởi kiện tại TAND quận 6”.

Việc ông Cường xui người dân kiện ra tòa, về dấu hiệu của hành vi vi phạm pháp luật hình sự là không thể chấp nhận. Bởi lẽ, mấu chốt của vụ việc ở đây là bản sao “giấy chứng tử”, do ông Ngân đại diện chính quyền ký xác nhận, liệu có phải là giả mạo hay do chính ông Ngân ký và đóng dấu thật? Việc thẩm định tài liệu này là rất quan trọng.

Song, tại văn bản số 60, ngày 20.12.2011, thượng tá Ngô Văn Thêm – Phó Thủ trưởng Cơ quan CSĐT CA quận 6 – trả lời bà Ngọc rằng: Việc tố cáo ông Tư “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “giả mạo tài liệu” của bà Ngọc; qua nghiên cứu nội dung đơn, Cơ quan CSĐT CA quận 6 nhận thấy là “quan hệ dân sự”, nên đề nghị bà Ngọc gửi đơn tới TAND quận 6 để giải quyết(?!).

Mới đây, ngày 8.5.2012, CA quận 6 tiếp tục có văn bản số 746/CV-ĐTTH,  cho rằng: Do vụ tranh chấp căn nhà 70 Tân Hòa Đông, tòa phúc thẩm đã tuyên ông Tư thắng kiện và trên các tài liệu ủy quyền, chuyển nhượng tài sản, “chưa có cơ sở xác định hành vi của ông Tư phạm tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”(?).

Riêng việc tố cáo “làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức…”, Cơ quan CSĐT xác minh tại UBND phường 14 và được trả lời “UBND phường 14 không cấp giấy chứng tử nào về trường hợp bà Nguyễn Thị Ngọc”. Cơ quan CSĐT xác minh tại nhiều cơ quan như: Văn phòng đăng ký QSDĐ quận 6, nơi đây cung cấp các hồ sơ hợp thức hóa nhà 70 Tân Hòa Đông, không có giấy khai tử của bà Ngọc… Cơ quan CSĐT cho rằng tố cáo “giả mạo tài liệu cơ quan nhà nước” chưa có cơ sở pháp luật (?!).

Ở đây, bà Ngọc tố cáo ông Tư có dấu hiệu làm giả “Giấy chứng tử” của bà để chiếm đoạt thừa kế căn nhà 78/36 Tân Hòa Đông, phường 14; còn việc tranh chấp giữa bà Ngọc với ông Tư trên căn nhà 70 Tân Hòa Đông, phường 14 lại là một vụ khác. Với căn nhà 78/36 Tân Hòa Đông, “chìa khóa” giải mã có hay không hành vi giả mạo nằm ở bộ hồ sơ nhận thừa kế, tại phòng công chứng số 7. Không hiểu vì “non tay” hay vì động cơ nào khác, mà Cơ quan CSĐT CA quận 6 xác minh sai địa chỉ căn nhà, để rồi kết luận không có chuyện làm giả “giấy chứng tử”(?!).
2. Báo Pháp luật & Xã hội có bài “Lạ lùng” chuyện tự nguyện thi hành án vẫn bị… cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản. Bài báo phản ánh: Ngày 25-9-2009, tại Chi cục THADS quận Bình Tân, bà Hoa và vợ chồng bà Nguyệt, ông Nhứt lập biên bản giải quyết thi hành án. Cuộc thương thảo này, ông Nhứt trình bày khó khăn và xin giãn thời gian trả nợ.

Theo Luật Thi hành án dân sự năm 2008, khi người phải thi hành án tự nguyện thi hành án thì không cưỡng chế. Nhưng “lạ lùng”, Chi cục Thi hành án dân sự (THADS) quận Bình Tân, TP HCM lại ra quyết định cưỡng chế, kê biên tài sản đối với vợ chồng bà Nguyệt, ông Nhứt trong khi họ tuân thủ các thỏa thuận giữa hai bên…

Cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại, vợ chồng bà Đặng Thị Thu Nguyệt, ông Nguyễn Văn Nhứt, trú tại quận Bình Tân, TP HCM, có đơn đến báo PL&XH phản ánh, họ vay tiền của bà Huỳnh Thị Phương Hoa, cùng trú tại địa chỉ trên và ngày 14-9-2006, TAND quận Tân Phú có Quyết định số 275/2006/QĐST-DS công nhận sự thỏa thuận của các đương sự. Theo đó, vợ chồng bà Nguyệt, ông Nhứt có trách nhiệm trả cho bà Hoa 47 lượng vàng SJC. Tòa cũng ghi nhận bà Hoa đồng ý cho vợ chồng bà Nguyệt thanh toán dần số nợ trên và việc giao trả vàng thực hiện tại Chi cục THADS quận Bình Tân.

Ngày 25-9-2009, tại Chi cục THADS quận Bình Tân, bà Hoa và vợ chồng bà Nguyệt, ông Nhứt lập biên bản giải quyết thi hành án. Cuộc thương thảo này, ông Nhứt trình bày khó khăn và xin giãn thời gian trả nợ. Hai bên đã thống nhất, cuối tháng 10-2009, người phải thi hành án trả cho bà Hoa 70 triệu đồng; tháng 12-2009 trả 30 triệu đồng. Số tiền còn lại sẽ được trả dần, 30 triệu đồng/2 tháng.

Những tưởng mọi sự cứ như thỏa thuận mà tiến hành, “bỗng dưng”, ngày 24-4-2012, vợ chồng bà Nguyệt, ông Nhứt nhận được từ Chi cục THADS quận Bình Tân quyết định cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản là nhà và đất ở, địa chỉ số 257/78 khu phố 4, đường Bình Thành, phường Bình Hưng Hòa B, quận Bình Tân.

Đối chiếu với khoản 2 Điều 9 Luật THADS năm 2008, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà không tự nguyện mới bị cưỡng chế thi hành án. Ngoài ra, khoản 2 Điều 45 Luật này quy định, trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền áp dụng ngay các biện pháp quy định tại Chương IV (biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành án) của Luật này. Đằng này, vợ chồng bà Nguyệt, ông Nhứt tuân thủ những điều đã thỏa thuận ngày 25-9-2009 (biên lai thu tiền thi hành án cuối cùng vào ngày 3-5-2012). Vậy, không có lý do gì để cơ quan thi hành án ra quyết định cưỡng chế kê biên, xử lý tài sản.

Ông Nhứt đã khiếu nại đến Chi cục Trưởng Chi cục THADS quận Bình Tân. Trong thời gian chờ giải quyết khiếu nại, Chi cục THADS quận Bình Tân vẫn tiến hành kê biên căn nhà trên của vợ chồng ông Nhứt.

Điều 95 Luật THADS năm 2008 còn nêu rõ, kê biên nhà ở là nơi ở duy nhất của người phải thi hành án và gia đình chỉ được thực hiện sau khi xác định người đó không có các tài sản khác hoặc có nhưng không đủ để thi hành án, trừ trường hợp người phải thi hành án đồng ý kê biên nhà ở để thi hành án. Đáng nói, số tiền vợ chồng ông Nhứt nợ bà Hoa thấp hơn nhiều so với giá trị căn nhà mà ông Nhứt, bà Nguyệt đang sở hữu (?).
3. Báo Người lao động có bài Nhập khẩu Lâm Đồng để… lấy chồng ngoại. Bài báo phản ánh: Khoảng một năm qua, hàng trăm phụ nữ từ các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ liên tục nhập hộ khẩu lên các xã vùng xa của tỉnh Lâm Đồng để làm thủ tục lấy chồng ngoại quốc.

Vấn đề này đã và đang đặt ra công tác quản lý người nhập khẩu cư trú đối với các cơ quan chức năng của tỉnh Lâm Đồng cần phải chặt chẽ, sâu sát thực tế hơn.

Theo ông Trần Hữu Thọ, Phó Giám đốc Sở Tư pháp Lâm Đồng, từ đầu năm 2012 đến nay, sở này đã giải quyết đăng ký kết hôn 68 trường hợp phụ nữ Lâm Đồng kết hôn với người nước ngoài, trong đó có vài trường hợp phụ nữ từ các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ nhập hộ khẩu về Lâm Đồng.

Riêng tính từ tháng 5-2011 đến tháng 5-2012, Sở Tư pháp Lâm Đồng đã ghi chú vào sổ hộ tịch khoảng 300 trường hợp phụ nữ kết hôn với người nước ngoài, chiếm đa số phụ nữ trong đó có hộ khẩu gốc ở các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ nhập hộ khẩu về Lâm Đồng.

Với đăng ký kết hôn mới, Sở Tư pháp Lâm Đồng căn cứ đầy đủ hồ sơ hợp lệ về hộ khẩu đăng ký thường trú, tiến hành phỏng vấn hai bên đều thể hiện đủ điều kiện kết hôn tự nguyện… mới trình UBND tỉnh Lâm Đồng cấp Giấy Chứng nhận đăng ký kết hôn trong thời hạn giải quyết hồ sơ theo quy định tối đa là 30 ngày.

Tương tự với ghi chú kết hôn với người nước ngoài, trong thời hạn từ 5 ngày đến 10 ngày, Sở Tư pháp Lâm Đồng cũng đã xem xét đầy đủ hồ sơ hợp pháp về hộ khẩu thường trú, có đủ sự có mặt 2 vợ chồng trực tiếp trả lời phỏng vấn rằng, đã tự nguyện kết hôn, không bị ai ép buộc… nên đã giải quyết cấp “Giấy Xác nhận về việc ghi chú vào sổ các việc hộ tịch đã đăng ký trước cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài”.

Tuy nhiên, trước con số phụ nữ từ các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ nhập khẩu về Lâm Đồng để lập thủ tục kết hôn với người nước ngoài tăng lên một cách đột biến nêu trên, bắt đầu từ tháng 5/2012 đến nay, Sở Tư pháp Lâm Đồng đã phối hợp với ngành công an Lâm Đồng tiến hành xác minh lại thực tế cư trú của người phụ nữ trước khi giải quyết cấp đăng ký kết hôn và ghi chú kết hôn.

Kết quả trong 30 hồ sơ xác minh chỉ có 5 hồ sơ phụ nữ hiện đang cư trú, sinh sống ổn định tại các xã vùng xa của Lâm Đồng, nên được giải quyết hoàn tất thủ tục kết hôn với người nước ngoài. 25 trường hợp phụ nữ còn lại đang chờ kết luận chính thức về thời gian sinh sống sau khi nhập khẩu về Lâm Đồng.

Được biết, trước đó không lâu, Sở Tư pháp Lâm Đồng đã trả lại, không giải quyết vài chục hồ sơ vì công an ở các huyện vùng xa của Lâm Đồng phát hiện tất cả phụ nữ xin đăng ký kết hôn và ghi chú kết hôn với người nước ngoài hiện không cư trú tại nơi nhập khẩu.

Theo lãnh đạo của một phòng chức năng quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội của Công an tỉnh Lâm Đồng, thì việc phụ nữ từ tỉnh khác nhập khẩu về tỉnh Lâm Đồng với thời gian chưa lâu, nhưng đã tìm gặp ngay người đàn ông nước ngoài để đăng ký kết hôn là một hiện tượng bộc lộ ra nhiều dấu hiệu đáng lưu ý.

Chưa kể đã có tin báo phát hiện ban đầu về trường hợp người phụ nữ có tên trong sổ hộ khẩu của một gia đình ở một xã vùng xa của Lâm Đồng, nhưng hoàn toàn không biết chủ hộ gia đình đó là ai, không biết khu vực xóm, thôn, xã cư trú là ở đâu… là không thể chấp nhận được. Ở đây có thể do cán bộ công an ở cấp xã, cấp huyện khi xem xét, giải quyết hồ sơ nhập khẩu đã thiếu xác minh, thiếu kiểm tra, đối chiếu thực tế các mối quan hệ giữa người chủ hộ gia đình với người nhập khẩu, dẫn đến không loại trừ nghi vấn có những đối tượng trung gian mối lái thuê người đứng tên bảo lãnh, hợp thức hóa việc nhập khẩu giả, cư trú giả của người phụ nữ từ các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam Bộ lên tỉnh Lâm Đồng để làm thủ tục kết hôn với người nước ngoài được dễ dàng, nhanh gọn hơn theo cơ chế một cửa.

Và từ đây cũng không loại trừ khả năng đang manh nha hình thành một đường dây đưa phụ nữ ra nước ngoài một cách không bình thường từ việc kê khai, lập thủ tục nhập khẩu thật, cư trú giả; lập thủ tục đăng ký thật, thỏa thuận kết hôn giả… tại các cơ quan thẩm quyền từ cấp cơ sở đến cấp tỉnh ở Lâm Đồng.

4. Báo Pháp luật Việt Nam có bài Chuyên gia “mổ“ Quyết định 07 về hiếu – hỷ của TP.Hà Nội. Bài báo phản ánh: Việc Hà Nội ban hành Quyết định 07 thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang được dư luận đánh giá là đúng đắn để nắn “dòng chảy” văn hóa đang lệch hướng trong thời mở cửa. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng còn khá nhiều ý kiến e ngại bởi hiếu – hỷ là việc quan trọng của cả đời người, liệu làm như vậy có ảnh hưởng đến truyền thống và tâm linh lâu đời của người Việt hay không?

Trò chuyện với TS Mỹ học Phạm Thế Hùng, ông cho biết:

Tôi xin khẳng định là hoàn toàn ủng hộ quyết định của TP Hà Nội. Trong giai đoạn hiện nay, khi cuộc sống của người dân khấm khá hơn thì bắt đầu xuất hiện những biểu hiện phô trương không cần thiết, rất lãng phí trong từng gia đình, cả cộng đồng xã hội.  Một bộ phận không nhỏ người Việt đã và đang nghĩ rằng việc hiếu – hỷ chính là một cách, một “phương tiện” để trả ơn nhau (theo kiểu nợ miệng) và thậm tệ hơn là để… “thu hoạch, hồi vốn” những đồng tiền đã bỏ ra chạy chức, chạy quyền. Để làm việc đó, thử hỏi còn dịp nào dễ dàng và tế nhị hơn hiếu – hỷ nữa!

Tôi đã đọc những điều cụ thể của Quyết định 07 về việc cưới, việc tang và xin có đôi lời bàn thế này. Về việc tang quy định “tang phục giản dị, khăn tang theo quy cách truyền thống”, tôi thấy chỗ này cần nói rõ hơn một chút vì hiện nay, nhiều đám tang ở thành phố, gia đình, người thân của người đã mất chủ yếu mặc đồ đen theo phong cách phương Tây thay cho khăn xô, mũ mấn, gậy chống… Tuy đó không phải quy cách truyền thống nhưng cũng là một nếp tốt, giản dị, trang trọng. Thế nên, thay vì “theo quy cách truyền thống” thì chỉ quy định “tang phục giản dị, trang trọng” sẽ dễ hiểu, áp dụng được với mọi nơi.

Về phần đám cưới có quy định “khuyến khích không sử dụng rượu bia”, tôi thấy nên thay bằng “khuyến khích sử dụng hạn chế rượu bia” thì hợp lý hơn.  Lấy vợ, lấy chồng là việc trọng đại của cả một đời người, việc vui của cả một gia đình, dòng họ chứ không riêng gì cá nhân cô dâu, chú rể, nên lúc này mà không có rượu, bia chia vui thì rất đáng tiếc. Có điều chúng ta cần phải có một phong cách  uống rượu bia thật văn minh và đúng cách, thậm chí phải được nâng tầm là “văn hóa uống rượu bia” để mình uống rượu chứ không phải rượu uống mình, dẫn đến hành xử mất nhân cách.

Nhiều người cho rằng mang vòng hoa đến đám tang là một sự trả nghĩa hay thể hiện sự kính trọng, rồi đám tang nào ít vòng hoa bị đánh giá là người nằm xuống khi còn sống không được quý mến… Đây là một sự rất phi thực tế nên quy định hạn chế vòng hoa là đúng. Nên để món tiền  mua vòng hoa đó trước hết là phúng viếng người nằm xuống, sau đó là giúp đỡ thân nhân của họ học hành, sinh sống sau này. Suy nghĩ, việc làm như vậy là tiết kiệm và  có ý nghĩa hơn rất nhiều.

Việc hiếu – hỷ là việc của từng người dân, thế nên muốn thay đổi phải do sự giác ngộ từ người dân mà ra chứ không thể áp từ trên xuống một cách khiên cưỡng. Muốn vậy thì cán bộ, công chức, Đảng viên phải là những người đi đầu làm gương để cho dân thấy, dân nhận thức rồi dân theo. Có thế quy định mới đi vào cuộc sống và hiệu quả…

theo http://moj.gov.vn

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>