mua may tinh cu tai ha noi-- cat gach

Một số thông tin nổi bật trên báo chí ngày 02.01.2013

dieu hoa noi that gach tranh gạch tranh

Một số thông tin nổi bật trên báo chí ngày 02.01.2013

Một số thông tin nổi bật trên báo chí ngày 02.01.2013

02.01.2013 . Trong buổi sáng ngày 02/01/2013, một số báo đã có bài phản ánh những thông tin nổi bật và thông tin liên quan đến công tác tư pháp như sau:

I- THÔNG TIN NỔI BẬT

1. Báo Điện tử Chính phủ đưa tin Chỉ thị của Bộ Chính trị về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Ngày 28/12/2012, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Chỉ thị số 22-CT/TW về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng đăng toàn văn Chỉ thị này.

Ngày 23/11/2012, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Nghị quyết số 38/2012/QH13 về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, bắt đầu từ ngày 2/1/2013 và kết thúc vào ngày 31/3/2013.

Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là một đợt sinh hoạt chính trị quan trọng, rộng lớn trong toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị nhằm phát huy quyền làm chủ, trí tuệ, tâm huyết của các tầng lớp nhân dân, của các cấp, các ngành, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với việc sửa đổi Hiến pháp, thi hành Hiến pháp, pháp luật và góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

2. Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh có bài Thông điệp của Thủ tướng: Sáu nhiệm vụ trọng tâm năm 2013. Bài báo đưa tin: Nhân dịp năm mới 2013, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có bài viết tiêu đề “Kiên quyết khắc phục yếu kém, vượt qua khó khăn, tiếp tục kiềm chế lạm phát, bảo đảm tăng trưởng, đưa đất nước phát triển bền vững”.

Mở đầu bài viết, Thủ tướng nhận định trong năm 2012 tuy có nhiều khó khăn, thách thức nhưng với nhiều nỗ lực, đến cuối năm cả nước đã đạt được những kết quả tích cực: Lạm phát được kiềm chế ở mức thấp 6,81%; kim ngạch xuất khẩu tăng trên 18%; dự trữ ngoại hối cao nhất từ trước đến nay; tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng trên 5%… Thủ tướng cũng nhìn nhận năm qua quản lý nhà nước còn nhiều yếu kém; tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng; kinh tế vĩ mô chưa phát triển vững chắc, lạm phát vẫn có nguy cơ tăng cao trở lại…

Trong bối cảnh trên, để đạt được mục tiêu tổng quát đặt ra cho năm 2013, Thủ tướng đề nghị cần tập trung thực hiện tốt sáu nhiệm vụ trọng tâm sau: Nâng cao chất lượng thể chế và khả năng phản ứng chính sách, tạo lập niềm tin cho thị trường; điều hành chính sách tiền tệ theo tín hiệu thị trường và theo lạm phát mục tiêu. Kết hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa; tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và hỗ trợ thị trường; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đề cao trách nhiệm của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ; đẩy mạnh tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế; bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội.

Kết thúc bài viết, Thủ tướng nhấn mạnh: Phát huy những tiến bộ đã đạt được, kiên quyết khắc phục yếu kém, đề cao trách nhiệm, tinh thần tự lực tự cường, truyền thống đoàn kết – chung sức chung lòng, nhân dân ta, đất nước ta nhất định sẽ vượt qua khó khăn thách thức, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2013.
II- THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN CÔNG TÁC TƯ PHÁP
1. Báo Pháp luật Việt Nam có bài 10 sự kiện nổi bật năm 2012 của Ngành Tư pháp. Bài báo đưa tin: Năm 2012 chuẩn bị khép lại với dấu ấn về sự phát triển không ngừng của ngành Tư pháp. Ngày 29/12/2012, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường đã ký Quyết định số 3990/QĐ-BTP phê duyệt và công bố 10 sự kiện nổi bật năm 2012 của Ngành Tư pháp.
2. Báo Người Lao động có bài Lén lút bán tài sản thi hành án. Bài báo phản ánh: Ngày 1-1, Công an huyện Châu Thành – Tiền Giang xác nhận cơ quan công an huyện đã kết hợp với chấp hành viên Chi cục Thi hành án dân sự TP Mỹ Tho lập biên bản không cho chủ phương tiện sà lan số TG 6328 mang sà lan ra khỏi xưởng sửa chữa R.G để bảo đảm cho việc thi hành án.

Theo kết quả xác minh ban đầu của cơ quan chức năng, chủ sà lan nói trên là ông Nguyễn Văn Tám (ngụ TP Mỹ Tho) phải có nghĩa vụ thi hành bản án dân sự, trả cho ông Đoàn Thanh Hiểu hơn 614 triệu đồng vì ông Tám thuê ông Hiểu đóng sà lan nhưng chưa thanh toán khoản tiền trên. Sau khi bản án có hiệu lực, Chi cục Thi hành án dân sự đã nhiều lần động viên ông Tám thi hành án nhưng vẫn không được.

Ngày 6-4-2011, Chi cục Thi hành án dân sự TP Mỹ Tho có văn bản gửi các cơ quan chức năng đề nghị phối hợp ngăn chặn việc tẩu tán tài sản là 2 sà lan mang biển số TG 9279 và TG 6328. Tuy nhiên, ông Tám đã lén lút bán cả 2 sà lan này. Theo người vừa mua chiếc sà lan biển số TG 6328, mặc dù trong hợp đồng mua bán là do ông Tám ký nhưng mọi giao dịch đều do một trung tá CSGT đứng ra thương lượng. Người này mua chiếc sà lan với giá 2 tỉ đồng và đã trả hết 1,95 tỉ đồng. Trung tá CSGT này hứa sẽ ra công chứng để chứng thực mua bán sà lan nhưng đợi mãi vẫn không thấy.

3. Báo Pháp luật và Xã hội có bài Thi hành án Dân sự huyện Ân Thi vi phạm tố tụng?. Bài báo phản ánh: Dù TAND tỉnh Hưng Yên đã yêu cầu hoãn thi hành án, xem xét theo trình tự giám đốc thẩm nhưng Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ân Thi vẫn tiến hành cưỡng chế…

Ngày 26-10-2010, TAND huyện Ân Thi có bản án số 02/2010/DSST xét xử  việc “tranh chấp tài sản sau ly hôn” giữa chị Nguyễn Thị Chinh và anh Trần Bá Cừ, đều trú tại thôn An Khải, xã Bắc Sơn, huyện Ân Thi.

Ngày 22-11-2012, Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ân Thi ban hành QĐ số 01/QĐ-CCTHA, “chuyển giao quyền sử dụng đất, công trình trên đất và các tài sản” đối với anh Trần Bá Cừ, để thực hiện bản án số 02/2010/DSST ngày 26-10-2010, lịch cưỡng chế vào ngày 5-12-2012. Tuy nhiên anh Cừ cho biết, đến tận khi nhận QĐ cưỡng chế, anh mới biết có bản án nên đã làm đơn khiếu nại vào ngày 30-11-2012, cho TAND tỉnh xem xét theo trình tự giám đốc thẩm và TAND tỉnh Hưng Yên đã có Công văn yêu cầu dừng thi hành án. “Hôm cưỡng chế, tôi nói đã có công văn dừng thi hành án thì ông Nguyễn Huy Hải, Phó Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ân Thi nói nếu có thì sẽ dừng. Nhưng khi tôi lên tỉnh xin được công văn về, họ vẫn cưỡng chế” – anh Cừ bức xúc.

Đúng như anh Cừ phản ánh, ngày 3-12-2012, TAND tỉnh Hưng Yên có Công văn số 39/CV-TA gửi Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ân Thi, trong đó nêu rõ: “Chánh án TAND tỉnh Hưng Yên yêu cầu Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ân Thi hoãn thi hành án đối với bản án số 02/2010/DSST ngày 26-10-2010 của TAND huyện Ân Thi, trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày 3-12-2012”.

Trao đổi với PV báo PL&XH, ông Vũ Xuân Trường, Trưởng phòng Giám đốc kiểm tra án, TAND tỉnh Hưng Yên xác nhận, đã ký Công văn số 39 gửi Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ân Thi vào ngày 3-12. “Xem đơn khiếu nại, tôi có báo cáo Chánh án là dừng lại, xem xét và đồng chí ủy quyền tôi ký công văn đó” – ông Trường khẳng định.

Ông Trường còn cho biết, hôm cưỡng chế, chính Chánh án TAND huyện Ân Thi cũng đã gọi điện cho ông để xác nhận việc anh Cừ lên xin bản sao Công văn số 39. “Sáng 5-12, chánh án TAND huyện Ân Thi còn gọi điện cho tôi hỏi ý kiến, tôi nói dừng lại vì hội đồng thẩm phán đang xem xét, tránh oan sai. Ông ấy còn nói, vậy tôi bảo họ (đoàn thi hành án) dừng lại, nhưng rồi vẫn làm” – ông Trường nói và kết luận: “Làm như vậy là trái pháp luật”. Về quan điểm tới đây đối với vụ án, ông Trường cho biết, đang nghiên cứu hồ sơ.
4. Báo Công an thành phố Hồ Chí Minh có bài Kiên Giang: Chi cục trưởng thi hành án coi thường quyết định của cấp trên. Bài báo phản ánh: Căn cứ quyết định sơ thẩm số 86/2009/QĐST ngày 2-11-2009 của TAND huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang thì vợ chồng ông Nguyễn Hữu Vĩnh – bà Lê Thùy Trang phải trả cho ông Phạm Tam và bà Trần Tú Châu 440 triệu đồng. Ngay sau khi quyết định này có hiệu lực, Chi cục Thi hành án dân sự (THADS) huyện Hòn Đất ban hành quyết định số 161/QĐ-THA ngày 6-11-2009 buộc ông Vĩnh – bà Trang phải trả cho ông Tam – bà Châu số tiền trên. Bốn ngày sau đó, vợ chồng ông Vĩnh đã trả cho ông Tam 100 triệu đồng thông qua việc bán chiếc xe tải KIA, còn 340 triệu đồng vẫn rơi vào im lặng bởi sự thiếu thiện chí của người nợ và cách hành xử kỳ lạ của chi cục THADS cùng các cơ quan chức năng huyện Hòn Đất.
Theo báo cáo số 47/BC-VKS ngày 3-11-2011 của Viện KSND huyện Hòn Đất gửi chủ tịch UBND huyện (trưởng ban chỉ đạo giải quyết THADS huyện), các tài sản khác của vợ chồng ông Vĩnh đang thế chấp tại Ngân hàng An Bình. Căn cứ điều 90 Luật THADS năm 2008, trước khi kê biên tài sản thế chấp, chấp hành viên đã xác minh giá trị tài sản đang thế chấp tại ngân hàng cao hơn nhiều so với số tiền vay nên chi cục THADS huyện đã có công văn yêu cầu phối hợp xử lý không qua khởi kiện, nếu được sẽ ưu tiên thanh toán cho phần nghĩa vụ được bảo đảm. Chi cục THADS đã ban hành quyết định kê biên tài sản số 19/QĐ-THA ngày 6-7-2010. Thực hiện quyết định kê biên toàn bộ là quyền sử dụng đất ở, đất vườn tạp, đất nông nghiệp, quyền sở hữu công trình xây dựng, nhà ở…, theo định giá của Công ty CP định giá – tư vấn và đầu tư xây dựng Vina Sun thì toàn bộ giá trị ước tính gần 7 tỷ đồng. Báo cáo trên cũng khẳng định ngoài 12 bản án quyết định về việc các cá nhân, tổ chức khởi kiện vợ chồng ông Vĩnh – bà Trang thì chỉ có bản án của ông Phạm Tam và bà Trần Tú Châu có trước khi ông Vĩnh – bà Trang thế chấp tài sản cho Ngân hàng An Bình.
Dù vậy, nhưng sau khi đứng “trung gian” bán đấu giá các tài sản của ông Vĩnh – bà Trang, Chi cục THADS huyện Hòn Đất đều “ưu ái” trả hết cho Ngân hàng An Bình sau khi đã trả chi phí định giá và chuyển quyền sử dụng mà không hề đoái hoài gì đến quyền lợi hợp pháp của ông Tam – bà Châu. Cụ thể là sau khi đấu giá hơn 2,4ha đất nông nghiệp được 645,5 triệu đồng (chi phí đấu giá làm số tròn 14 triệu, chi phí chuyển quyền sử dụng 16 triệu và số tiền còn lại 615 triệu đồng trả cho Ngân hàng An Bình). Ngoài ra còn tài sản đấu giá là hai kho lạnh, máy nén lạnh, trạm điện và quyền sử dụng đất hơn 2,1ha cùng nhiều tài sản liên quan khác, sau khi được bán đấu giá gần 4,9 tỷ đồng thì chi cục THADS một lần nữa “tạo điều kiện” cho Ngân hàng An Bình lấy toàn bộ tiền gốc hơn 3,8 tỷ đồng và hơn 900 triệu tiền lãi, nghiễm nhiên coi như không có số tiền ông Vĩnh – bà Trang còn nợ ông Tam là 340 triệu đồng.
Quá bức xúc trước cách hành xử của Chi cục THADS huyện Hòn Đất, ông Tam đã gửi đơn đến các cơ quan hữu trách nhờ can thiệp nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình. Ngoài việc đùn đẩy trách nhiệm và thể hiện rõ sự “ưu ái” cho ngân hàng, Cục THADS tỉnh Kiên Giang và Chi cục THADS huyện Hòn Đất đã làm không hết trách nhiệm, kê biên tài sản một cách bất hợp lý, không quan tâm đến quyền lợi hợp pháp của các cá nhân liên quan, mà cụ thể là ông Tam và bà Châu. Sau khi có bản án TAND huyện Hòn Đất tuyên buộc vợ chồng ông Vĩnh phải trả cho ông Tam – bà Châu tổng số 440 triệu đồng, vợ chồng ông này đã đem tài sản trên thế chấp cho Ngân hàng An Bình (không ngoài mục đích tẩu tán). Thế nhưng Chi cục THADS huyện Hòn Đất chẳng những không ngăn chặn mà còn “tiếp tay”, thỏa thuận bằng nhiều công văn, văn bản nhằm bảo vệ “quyền lợi” cho phía ngân hàng.
Sau khi nhận được đơn khiếu nại của ông Phạm Tam, ông Nguyễn Văn Sơn – Phó tổng cục trưởng Tổng cục THADS – đã ra quyết định số 258/QĐGQKN-TCTHA ngày 27-4-2012 chấp nhận một phần khiếu nại, khẳng định việc xử lý tài sản thế chấp: ưu tiên thanh toán toàn bộ số tiền thu được cho Ngân hàng An Bình bao gồm cả tài sản thế chấp sau khi có quyết định số 86/2009/QĐST của TAND huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang là chưa đúng quy định của pháp luật. Đồng thời yêu cầu Cục trưởng Cục THADS tỉnh Kiên Giang chỉ đạo Chi cục trưởng THADS huyện Hòn Đất thu hồi quyết định, trả lại đơn yêu cầu THA số 01/QĐ-THA ngày 7-10-2011 để tổ chức lại việc thi hành quyết định số 86/2009/QĐST, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ngày 2-11-2009 của TAND huyện Hòn Đất theo quy định của pháp luật.
Căn cứ theo quyết định của Tổng cục THADS, ông đã tìm gặp và yêu cầu Chi cục THADS huyện Hòn Đất giải quyết đơn thư, quyết định mà tổng cục đã ban hành. Thế nhưng ngày 17-9-2012 công văn số 271/CVTL-CCTHA của Chi cục THADS huyện Hòn Đất gửi cho ông lại phớt lờ việc chỉ đạo của Tổng cục THA và cho rằng xử lý dựa trên thông tư liên tịch số 2001/TTLT-BTP-VKSNDTC (ngày 26-1-2001) chứ không thể áp dụng thông tư liên tịch số 14/2010/TTLT-BTP-VKSNDTC-TANDTC (ngày 26-7-2010), đồng thời cho rằng thời điểm thiết lập hợp đồng thế chấp tài sản giữa vợ chồng ông Vĩnh với Ngân hàng An Bình thì thông tư liên tịch kia chưa được ban hành (!?).
Sự việc quá rõ, bản án có hiệu lực, tài sản để thi hành được “hợp thức hóa” bằng cách cầm cố cho ngân hàng và toàn bộ số tiền sau khi phát mãi đã được Chi cục THADS huyện Hòn Đất “ưu ái” trả hết cho ngân hàng. Việc ông Phạm Tam gửi đơn khiếu nại hoàn toàn có căn cứ và quyết định số 258 của Tổng cục THADS ngày 27-4-2012 thể hiện rõ điều này. Nhưng cho đến nay, Chi cục THADS huyện Hòn Đất vẫn phớt lờ, coi thường ý kiến chỉ đạo của cấp trên, xem nhẹ quyền lợi hợp pháp của ông Tam.

5. Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh có bài Nhiều người ký tên: Nơi chứng, nơi không. Bài báo phản ánh: Viện lẽ Thông tư 03/2008 của Bộ Tư pháp chỉ ban hành mẫu chứng thực chữ ký của một người, một số nơi đã từ chối chứng thực chữ ký của nhiều người trên cùng một văn bản.

Vợ chồng ông Nguyễn Văn A (Bà Rịa-Vũng Tàu) bị mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Để có cơ sở cấp lại giấy, văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện đã yêu cầu cả hai phải làm cam kết về việc bị mất giấy (có chứng thực chữ ký của UBND xã).

Vợ chồng ông A đã đến UBND xã ký tên vào giấy cam kết trước mặt cán bộ tư pháp xã. Thế nhưng cán bộ xã chỉ đồng ý chứng thực chữ ký của người chồng trong giấy cam kết. Lý do: Mẫu chứng thực chữ ký ban hành kèm theo Thông tư 03/2008 của Bộ Tư pháp (hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký) chỉ ghi có một người nên họ không thể viết thêm tên người khác.

Từ sự từ chối này mà ông A đã gặp rắc rối khi liên hệ tiếp với văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện. Theo văn phòng, vì diện tích đất cần cấp giấy là tài sản chung của vợ chồng nên phải có cam kết của người vợ. Nếu người vợ không được xã chứng thực chữ ký trên tờ cam kết của chồng thì hồ sơ cấp lại giấy của cả hai không được giải quyết.

Điều đáng nói là trong tình huống tương tự, UBND các phường, xã ở tỉnh Đồng Nai (gần kề Bà Rịa-Vũng Tàu) vẫn chứng thực chữ ký của nhiều người trên cùng một văn bản.

Tại TP.HCM, tất cả UBND xã, phường cũng chứng thực “ngon lành” và người dân không gặp bất cứ trở ngại nào. Ông Lê Thành Danh, Phó Chủ tịch UBND phường 27, quận Bình Thạnh, cho biết: “Đúng là Thông tư 03/2008 có quy định mẫu như vậy nhưng khi làm thì cán bộ phải biết vận dụng để giải quyết cho dân. Cơ quan tôi in sẵn mẫu chứng thực chữ ký của một người, hai người. Khi có từ ba người trở lên thì cán bộ phụ trách sẽ in họ tên, số CMND… của từng người lên văn bản để chứng thực chữ ký cho họ”.

UBND phường 13, quận 3 cũng có cách làm tương tự. Ông Nguyễn Tấn Quang, cán bộ tư pháp-hộ tịch phường này, kể: “Tháng 12-2012, UBND phường chúng tôi có chứng thực chữ ký cho 10 người trên giấy cam kết chỉ có một nhà ở, đất ở. Sau khi họ đã ký tên trước mặt người có thẩm quyền, chúng tôi đánh máy toàn bộ nội dung thông tin theo mẫu và chứng thực chữ ký của từng người”.

6. Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh có bài Luật sư khó vào khi chưa khởi tố. Bài báo phản ánh: Tại buổi khảo sát về thực trạng hành nghề luật sư của Liên đoàn Luật sư Việt Nam tại Đoàn Luật sư TP.HCM ngày 29-12, nhiều bất cập và đề xuất tiếp tục được các luật sư nêu lên, trong đó nổi bật là vấn đề bảo vệ thân chủ ở giai đoạn tiền tố tụng…

Theo luật sư Dương Thị Tới, BLTTHS vẫn còn có nhiều lỗ hổng, dẫn đến nhiều trường hợp luật sư không biết phải làm thế nào, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của thân chủ.

Trong giai đoạn trước khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, nghi can, người bị hại… vẫn bị cơ quan điều tra triệu tập, “mời” đến để lấy lời khai. Lời khai ban đầu của họ tại cơ quan điều tra có thể ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ về sau. Vì vậy, họ rất cần có luật sư bên cạnh nhưng do luật không quy định nên luật sư không thể tham gia ngay từ lúc này.

Từ đó, luật sư Tới đề nghị luật cần có quy định cho phép luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi của thân chủ trong giai đoạn tiền tố tụng. Cụ thể, luật sư chỉ cần có thẻ hành nghề và giấy yêu cầu luật sư của thân chủ là đủ.

Đồng tình, luật sư Phan Trung Hoài nêu dẫn chứng: Vừa qua ông nhận được đề nghị của một người yêu cầu giúp đỡ khi bị cơ quan điều tra triệu tập để lấy lời khai. Biết rằng vụ án chưa khởi tố nên ông chưa thể được cấp giấy chứng nhận bào chữa nhưng ông vẫn đến theo yêu cầu của khách hàng. Đến nơi, điều tra viên hỏi ngay: “Ông là ai? Ông vào đây làm gì? Ai cho phép ông vào?”. Ông trình bày là luật sư đến theo yêu cầu của thân chủ, điều tra viên lập tức bảo cơ quan điều tra chưa khởi tố vụ án, khởi tố bị can nên luật sư không thể tham gia trong những buổi lấy lời khai. Thế là ông đành phải ra về vì không còn cách nào khác.

Ngoài những khó khăn, trở ngại do quy định của pháp luật chưa đầy đủ, hầu hết luật sư của Đoàn Luật sư TP.HCM đều cho rằng nguyên nhân chủ yếu trong việc cản trở hoạt động hành nghề của luật sư vẫn xuất phát từ ý thức chủ quan của cán bộ tố tụng.

Theo luật sư Lê Lâm, để luật sư thực hiện đúng chức năng của mình, chỉ cần cơ quan tố tụng, cán bộ tố tụng thực hiện đúng theo những gì mà pháp luật đã quy định. “Không phải cán bộ không biết, không hiểu quy định mà ở đây chính là văn hóa ứng xử với luật sư chưa tốt. Việc sửa đổi luật là chuyện lâu dài. Trước mắt, cần phải làm thế nào để các cơ quan chức năng xem hoạt động của luật sư cũng là hoạt động nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ pháp chế” – luật sư Lâm nói.

Cùng quan điểm, một luật sư khác cho rằng những khó khăn của giới luật sư là điệp khúc “biết rồi, khổ lắm, nói mãi”. Điều quan trọng là đến nay, trong BLTTHS và các văn bản hướng dẫn vẫn chưa có chế định nào khắc chế sai phạm của những người tiến hành tố tụng. Trên thực tế, để đối phó, luật sư chỉ có hai phương án: Nếu khiếu nại, đối đầu thì sẽ bất lợi cho thân chủ, còn nếu muốn có lợi cho thân chủ thì phải hành xử tiêu cực. Do đó, luật cần thiết phải quy định rõ các chế tài với người cản trở hoạt động hành nghề của luật sư.

“Quyền bào chữa là giá trị văn minh không thể đảo ngược được. Nếu không thực hiện nó thì không thể đảm bảo các quyền tự do cơ bản khác cũng như quyền tiếp cận công lý. Vì vậy, những hành vi tiêu cực gây cản ngại đến hoạt động của luật sư sẽ dần dần bị khắc chế” – luật sư Phan Trung Hoài bày tỏ sự tin tưởng.

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

*

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>